• :
  • :
Nhiệt liệt chào mừng kỷ niệm 91 năm Ngày truyền thống các Ban của Đảng và Văn phòng cấp uỷ (1930 - 2021)
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Giới thiệu Luật hôn nhân và Gia đình

ĐỀ CƯƠNG GIỚI THIỆU

LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Ngày 19 tháng 6 năm 2014, tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII đã thông qua Luật hôn nhân và gia đình (sau đây gọi là Luật hôn nhân và gia đình năm 2014). Ngày 26 tháng 6 năm 2014, Luật đã được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký Lệnh công bố. Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2015.

I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014

Ngày 9 tháng 6 năm 2000, trên cơ sở kế thừa Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 và Luật hôn nhân và gia đình năm 1986, Quốc hội đã thông qua Luật hôn nhân và gia đình năm 2000. Sau gần 13 năm thi hành, Luật này đã đạt được những kết quả chủ yếu sau đây:

Một là, góp phần quan trọng vào việc đề cao vai trò của gia đình trong đời sống xã hội; giữ gìn và phát huy truyền thống văn hóa, đạo đức tốt đẹp của gia đình Việt Nam; phát triển nguồn nhân lực, ổn định và phát triển kinh tế - xã hội của cả nước nói chung và của từng địa phương nói riêng;

Hai là, trên cơ sở các quy định về nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình; kết hôn; quan hệ giữa vợ và chồng; ly hôn; quan hệ cha, mẹ, con, các thành viên khác trong gia đình; cấp dưỡng; giám hộ; quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài; trách nhiệm của công dân, Nhà nước và xã hội đối với gia đình, Luật đã góp phần xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững; bảo vệ tốt hơn các quyền con người, quyền công dân, đặc biệt là quyền của phụ nữ, trẻ em trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình;

Ba là, thông qua việc ghi nhận những chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử của các thành viên gia đình, Luật đã góp phần tăng cường và phát huy ý thức trách nhiệm, thái độ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; kế thừa, phát huy các truyền thống đạo đức, văn hóa tốt đẹp của gia đình và dân tộc;

Bốn là, tạo cơ sở pháp lý để thực hiện quyền sở hữu và giao dịch giữa các thành viên gia đình và giữa họ với các chủ thể khác trong xã hội, qua đó, góp phần bảo đảm sự ổn định của các quan hệ hôn nhân và gia đình, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của các thành viên gia đình, đồng thời bảo vệ tốt hơn quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác trong xã hội;

Năm là, quyền, lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài đã được Luật ghi nhận, bảo vệ phù hợp với chính sách đối ngoại của Nhà nước ta và các điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

Tuy nhiên, trong bối cảnh đất nước bước sang giai đoạn phát triển mới, cùng với tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, xã hội Việt Nam đang chịu những tác động tích cực và tiêu cực, không chỉ về mặt kinh tế mà còn cả về mặt văn hóa, xã hội. Gia đình với tư cách là tế bào của xã hội cũng không tránh khỏi sự tác động đa chiều đó: gia đình hạt nhân (hai thế hệ) đang dần thay thế cấu trúc gia đình truyền thống (nhiều thế hệ); việc đề cao tự do của cá nhân trong gia đình đã làm cho sự gắn kết giữa cha, mẹ, con và giữa các thành viên khác có xu hướng giảm sút; sự thiếu bền vững về hôn nhân; quan hệ sở hữu, giao dịch được thực hiện không chỉ nhằm đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình mà còn nhằm mục đích kinh doanh, thương mại ngày càng phổ biến; một số quan niệm mới về hôn nhân, gia đình ở nước ngoài đã du nhập vào Việt Nam và gây ra nhiều hệ lụy khác nhau…

Trong bối cảnh như vậy, Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 cũng đã bộc lộ không ít hạn chế, bất cập, cụ thể như sau:

Một là, một số quy định của Luật còn cứng nhắc, chưa tạo được cơ chế pháp lý linh hoạt, phù hợp với tính đa dạng, phong phú về điều kiện, hoàn cảnh của mỗi gia đình. Ví dụ: (1) Luật chỉ quy định một chế độ tài sản duy nhất của vợ chồng là chế độ tài sản theo luật định mà không có quy định cho phép vợ chồng được lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận. Cách quy định cứng nhắc như vậy chưa thực sự đảm bảo cho vợ chồng thực hiện được quyền tự thỏa thuận, tự định đoạt đối với tài sản của mình trước khi kết hôn cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của mỗi bên; (2) trong cơ chế giải quyết mâu thuẫn giữa vợ và chồng, Luật cũng chỉ mới dự liệu hai giải pháp là hòa giải đoàn tụ và giải quyết cho ly hôn, trong khi trên thực tế, ngoài hai giải pháp này, nhiều cặp vợ chồng lại lựa chọn giải pháp ly thân như là phương thức giải quyết phù hợp đối với tình trạng hôn nhân, hoàn cảnh gia đình của mình, trong đó có những cặp vợ chồng mong muốn việc ly thân của họ được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận;

Hai là, một số quy định của Luật có tính khả thi chưa cao, do đó dẫn đến tình trạng khó áp dụng trong thực tiễn. Chẳng hạn: (1) quy định về quyền, nghĩa vụ về nhân thân và tài sản giữa cha mẹ và con, giữa các thành viên khác trong gia đình còn mang tính nguyên tắc, chưa cụ thể, chưa phù hợp với thực tiễn; nhiều quy định chưa thể hiện được sự hài hòa giữa quyền, lợi ích và trách nhiệm, nghĩa vụ của các chủ thể có liên quan; (2) quy định của Luật về việc bắt buộc ghi tên cả hai vợ chồng trong giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng là phù hợp với nguyên tắc bình đẳng giữa vợ và chồng nhưng còn gặp rất nhiều khó khăn trong thực tiễn thi hành. Trên thực tế, quy định này mới chỉ áp dụng được ở một mức độ nhất định đối với tài sản là quyền sử dụng đất, nhà ở, còn đối với những tài sản khác như phương tiện giao thông, chứng khoán… thì về cơ bản là chưa thực hiện được;

Ba là, một số quan hệ về hôn nhân và gia đình đã và đang tồn tại trong thực tiễn nhưng chưa được Luật quy định hoặc quy định chưa cụ thể, như: nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn, chung sống giữa những người cùng giới tính, mang thai hộ... Tình trạng này cho thấy, Luật vừa không kịp thời bám sát thực tiễn cuộc sống vừa không bảo đảm được yêu cầu thể chế hóa đầy đủ các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về việc cần phải đề cao, tôn trọng và bảo đảm thực hiện ngày càng tốt hơn quyền con người, quyền công dân; gây ra không ít khó khăn, vướng mắc trong công tác quản lý nhà nước đối với các vấn đề nhạy cảm trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình;

Bốn là, một số quy định của Luật còn chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn giao lưu dân sự, như: còn thiếu quy định để xử lý các vấn đề liên quan đến việc vợ chồng tham gia hoạt động sản xuất, kinh doanh; quyền, nghĩa vụ của người thứ ba trong việc xác lập, chấm dứt giao dịch với một bên hoặc cả hai bên vợ chồng; một số quy định về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài còn chưa phù hợp với thực tiễn, chưa góp phần bảo vệ một cách hiệu quả quyền, lợi ích hợp pháp của các bên trong các quan hệ này;

Năm là, một số quy định của Luật chưa đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất với hệ thống các văn bản luật có liên quan được ban hành trong thời gian qua, như: Luật đất đai năm 2003; Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004; Bộ luật dân sự năm 2005; Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004; Luật bình đẳng giới năm 2006; Luật người cao tuổi năm 2006; Luật phòng, chống bạo lực trong gia đình năm 2007; Luật quốc tịch năm 2008; Luật nuôi con nuôi năm 2010...

Những bất cập, hạn chế nêu trên của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 đã làm giảm hiệu quả thi hành của Luật nói riêng, pháp luật hôn nhân và gia đình nói chung; ảnh hưởng đến việc thực hiện mục tiêu xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc; thực hiện, bảo vệ các quyền, nghĩa vụ của người dân về hôn nhân và gia đình. Nhiều quy định của Luật bị vi phạm nhưng cũng rất khó xử lý, xử phạt. Điều đó cho thấy, Luật hôn nhân và gia đình hiện hành cần được sửa đổi một cách toàn diện để vừa giải quyết được những yêu cầu khách quan của đời sống hôn nhân và gia đình, vừa thể hiện được các quan điểm mới của Đảng về việc tôn trọng, bảo đảm thực hiện quyền con người, quyền công dân trong đời sống dân sự nói chung và trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình nói riêng, được ghi nhận tại Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2020 đã được thông qua tại Đại hội XI của Đảng và những quy định mới trong Hiến pháp năm 2013.


Tác giả: le van tu
Nguồn:Ban biên tập Copy link
Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Tổ chức bộ máy
Bản đồ
Thăm dò ý kiến
Bạn đánh giá chất lượng cung cấp thông tin như thế nào?
Trang Liên Kết
Thống kê truy cập
Lượt truy cập hiện tại : 3
Hôm nay : 951
Hôm qua : 878
Tháng 10 : 16.640
Năm 2021 : 3.594.139
Thời tiết